via IFTTT
Thẻ: dotea
Hướng dẫn phân biệt Trà Shan Tuyết Thật, Giả – Để “không bị mất tiền oan”
Trên thị trường Trà Shan Tuyết được bán với nhiều mức giá khác nhau 300k-400k cho đến 5-7tr Vì vậy có rất nhiều câu hỏi nghi vấn được đặt ra như:
- Trà Shan tuyết gì mà rẻ vậy?
- Có phải trà tuyết thật không? sao mắc vậy?
- Làm sao để nhận biết chè shan tuyết thật ?
- v.v….
Phân Biệt Trà Shan Tuyết Và Trà Shan Không Có Tuyết
***
Giới uống trà nói riêng và người dân Việt Nam nói chung ắt hẳn ít nhiều nghe danh trà shan tuyết. Loại đặc sản vùng cao này là mục tiêu săn đuổi của giới chơi trà, dân nghệ thuật hay cả những đại gia lắm tiền nhiều của thích hàng độc, lạ.
Chính vì nhu cầu lớn nhưng số lượng có hạn nên trà shan tuyết cổ thụ được liệt vào danh sách hàng quý hiếm, thậm chí, rừng chè cổ ở xã Suối Giàng (Yên Bái) đã được nhà nước công nhận là di sản quốc gia cần được bảo tồn. Và cũng từ đây, trên thị trường xuất hiện một loại trà shan… không có tuyết đóng mác những thương hiệu chè tuyết nổi tiếng.
Bài viết sau đây sẽ chia sẻ cho các quý độc giả cách phân biệt chè shan tuyết và chè shan (không có tuyết) với kinh nghiệm của người làm trà đã từng lăn lộn khắp trong Nam ngoài Bắc.
Kính mời quý độc giả thưởng lãm.
Phân biệt chè tuyết thật giả qua 2 loại trà hình thức đặc trưng sau:
-
Trà shan tuyết:
Nguồn gốc:
Trà shan tuyết tại Việt Nam chỉ có ở vùng núi cao Tây Bắc với các loại danh trà như: shan tuyết Suối Giàng (Yên Bái), shan tuyết Tây Côn Lĩnh (Hà Giang), shan tuyết Tà Xùa (Sơn La)… tất cả các công ty thương mại, cửa hàng bán trà shan tuyết cũng đều lấy nguồn từ các khu vực này và thường rất ít vì vậy nếu như các bạn nghe người ta quảng cáo các loại trà shan tuyết miền Trung, shan tuyết Lâm Đồng hay shan tuyết abc… gì đó thì cần xem xét lại.
Đặc điểm:
Cái tên trà shan tuyết bắt nguồn từ lớp lông mao trắng tinh khôi trên búp trà. Cánh trà thường lớn hơn trà búp Thái Nguyên và nhỏ hơn trà Bảo Lộc.
Khi pha ra, màu trà trong sáng tự nhiên, thường trắng vàng hoặc trắng xanh (do ảnh hưởng của người làm trà hoặc cách pha) nhưng chủ đạo vẫn là màu trắng. Nếu bạn nhìn kỹ có thể thấy lớp lông mao nhỏ li ti trong nước.
Hương vị:
Hương trà thơm mùi cỏ sớm, cảm giác ngọt thanh, mát lại hơi ngai ngái. Vị trà chát chứ không hề đắng. Khi uống vào đến nước thứ 3 cảm thấy dính dính ở cổ, sau đó ngọt dần.
Đây là loại trà khá đặc biệt. Nếu pha đúng chuẩn, có thể uống được 8, 9 nước. Còn nếu “ngâm trà” như các cụ thì uống được 6 nước lận.
Do quý hiếm, số lượng ít (chỉ còn khoảng 80 ngàn cây trà cổ thụ) và thu hoạch 4 vụ/năm nên giá trà trên thị trường rất đắt, lên tới hàng triệu/kg.
Xem giá trà tuyết thật tại đây!.
-
Trà shan không có tuyết (Tri 777)
Nguồn gốc:
Loại trà shan (không có tuyết) có thực chất là giống trà TRI777 được trồng khá phổ biến tại nước ta.
Thực chất trà TRI777 có nguồn gốc từ trà shan tuyết Tây Bắc, sau đó được Srilanca lai tạo và thuần dưỡng trở thành một giống trà mới, năng xuất hơn.
Đặc điểm:
Trà TRI777 khi thu hái vẫn còn lưu lại dấu vết của tổ tiên chúng là 1 lớp mao tuyết trắng. Tuy nhiên lớp mao này rất ít, nhỏ và thường mất đi trong quá trình chế biến.
Trà TRI777 trồng ở Thái Nguyên cánh nhỏ vừa, đặc trưng của trà Thái Nguyên.
Hương vị:
Hương vị của trà TRI777 khá đậm, màu nước vàng xanh hoặc vàng mật, hương thơm cốm mới.
Giá cả:
Giá trà cũng vừa phải, chỉ khoảng vài trăm ngàn/kg.
-
Lưu ý
Cũng cần lưu ý thêm: do sự giống nhau của hai loại trà trên nên một số người trộn shan tuyết và TRI777 và bán với giá cao. Nên quý khách mua hàng cần sự tư vấn của chuyên gia và nên chọn loại shan tuyết cao cấp nhất.
Ngoài ra, tại Bảo Lộc- Lâm Đồng, các đồn điền chè chủ yếu trồng chè shan, loại chè này rất đặc trưng, rất dễ nhận biết.
from Dotea http://ift.tt/2naif6W
via danh tra dotea
Điểm Danh “Thập Đại Danh Trà” Việt Nam
Thập Đại Danh Trà Vang Danh Ở Việt Nam
***
-
Trà Shan Tuyết Cổ Thụ
Được dùng trong các buổi tiếp đãi các vị nguyên thủ quốc gia, shan tuyết là thượng phẩm trà quý hiếm bậc nhất. Cái tên shan tuyết ( nghĩa là “ tuyết trên núi”) bắt nguồn từ sắc trắng tinh khôi như tuyết của lớp lông mao dày trên búp non.
Nước ta chỉ mới phát hiện được một số vùng cao tại Yên Bái, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La… và một số nơi khác phân bố rải rác loại trà này. Đây là loại trà mọc hoang, chỉ sống trên núi cao thuộc phạm vi ảnh hưởng của các dãy Hoàng Liên Sơn hay Tây Côn Lĩnh. Cả nước hiện nay chỉ còn khoảng hơn 80 ngàn cây trà. Số lượng trà cổ thụ ngày càng ít đi do già cỗi và sự khai thác quá mức của con người.
Thưởng thức trà shan tuyết ví như ăn mía từ ngọn, qua mỗi lần nước, vị ngọt cứ đậm dần trong cổ. Sau 7 chén trà, chỉ thấy gió thổi vù vù như có cánh bay, tâm hồn lâng lâng bay bổng trên mây, miệng không ngớt ngân nga trà ca Lô Đồng mà đôi tay chừng chưa muốn buông chén, …
Xem giá trà shan tuyết tại đây!.
-
Trà Tân Cương Thái Nguyên
Cũng giống như những cô gái Tuyên Quang sắc nước hương trời, trà Tân Cương Thái Nguyên đã làm say mê biết bao nhiêu người mỗi lần có dịp thưởng thức nó.
“Hương thơm, sắc nước xanh màu
Nhấp môi đắng chát, ngọt sâu hậu bùi…”
Trà Thái Nguyên là thương hiệu trà phổ biến và nức tiếng là đệ nhất danh trà Việt Nam. Trà Thái mang hương vị đặc biệt, độc đáo nhất không thể lẫn và tìm thấy ở bất kỳ loại trà nào trên thế giới. Hãy một lần thưởng trà Thái và thả hồn theo mây gió lang thang để cảm nhận không gian khoáng đạt của một vùng chè xanh bát ngát, đồi núi chập chùng, líu lo chim hót, róc rách suối chảy và tiếng cá tầm nhảy nhót tung tăng xao động mặt hồ núi Cốc.
Xem giá trà thái nguyên tại đây!.
-
Trà Mạn Hảo
Trà Mạn Hảo có lẽ là danh trà gây ra nhiều cuộc tranh cãi nhất vì nó được coi như “biểu tượng thất truyền”, tiêu biểu cho cả một nền văn hóa dân tộc, thậm chí liên quan tới địa lý Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu cũng như giới chơi trà vẫn tiếc nuối khi
-
Trà Bạng
Trà Bạng gắn liền với đồng bào người Mường, Thái và là biểu trưng cho cả xứ chè Thanh Hóa. Nơi đây từng có nhiều vùng chè cổ được ghi vào các tác phẩm dư địa chí, là đặc sản tiến vua ngày xưa. Tuy nhiên, ngày nay dấu vết không còn nhiều, phổ biến nhất là các đồi chè ở tây bắc tỉnh. Điều đặc biệt nhất của chè Bạng là cách chế biến độc đáo: nguyên liệu được chọn từ lá chè bánh tẻ, phơi khô rồi giã nát và đun lên uống.
Do chất trà đậm và giữ nguyên được hương vị của chè tươi nên uống rất dễ bị…say. Nhấm nháp trà với một chút bột chè lam (một thứ bánh đặc sản của xứ Thanh) ngọt lành đúng là “phê” không gì bằng.
-
Trà Đâm Xứ Nghệ
Chắc hẳn mọi người ai cũng từng nghe hình ảnh ví von “bát chè cắm tăm” để nói đến độ đậm đặc của chè. Người dân xứ Nghệ sớm sớm trước khi ra đồng làm việc uống một bài nước chè tươi, vài củ khoai lang luộc, thế là đủ năng lượng cho cả ngày làm việc.
Đó là những lúc bận rộn. Còn khi nông nhàn, có thời gian rảnh rỗi, họ không vội vã mà cầu kỳ hơn, chế biến nước chè đâm thưởng thức.
Cách làm chè đâm khá thú vị (và vì thú vị nên xin hẹn bài khác chi tiết hơn) tốn công sức nhưng thật xứng đáng để chờ đợi. Hãy tưởng tượng, giữa cái trưa hè nắng chang chang với từng cơn gió Lào thổi hơi nóng như thiêu đốt, dưới gốc cây đa to, ta cầm 1 bát nước chè đâm xanh ngắt, thơm thơm, mát mát và ngọt ngào hậu vị chỉ nhìn đã thèm, và chậm dãi thưởng thức thì thú biết chừng nào.
-
Trà Tước Thiệt Cam Lộ Quảng Trị
Theo sách “Văn minh Trà Việt” của nhà nghiên cứu Trịnh Quang Dũng, trà tước thiệt (lưỡi sẻ) ở khu vực châu Sa Bôi (nay là Cam Lộ-Quảng Trị) cũng theo ông, rất có thể trà tước thiệt khu vực này nổi danh ít nhất suốt thế kỷ 14 đến tận thế kỷ 17.
Thực ra “tước thiệt” là danh từ chung trong giới trà chỉ búp chè đã hé ở cấp thứ 3 như hình lưỡi chim sẻ. Khu vực Quảng Trị xưa kia vốn là vùng biên cương, nhiều thổ sản, đã từng có nhiều chè hoang hoặc được người dân trồng. Hiện nay dấu tích về các vùng chè cổ vẫn còn lưu lại khắp vùng. Rất có thể, văn hóa trà xứ Huế cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi nơi này.
-
Cam Khổ Ngự Trà
“Thương em vất vả với cái bánh mõ bột mì
Nhưng em đừng nghĩ anh chỉ vì này nọ kia.
Anh ”drìa” đến huyện Hoài Ân
Kiếm trà ”Cam Khổ” chia ngọt bùi cùng em”
(Ca dao Bình Định)
Bình Định là vùng đất địa linh nhân kiệt, không chỉ là nơi sinh ra các văn nhân, võ tướng mà còn nổi tiếng với nhiều thắng cảnh. Trong tác phẩm “Non nước Bình Định”, nhà văn hóa Quách Tấn đã giới thiệu một loại trà có tên: Cam Khổ Ngự Trà.
“Cam” là ngọt, “khổ” là đắng. Vị của trà thoạt đầu đắng ngắt, sau ngọt dần. Ở Bình Định có nhiều nơi trồng chè nhưng nổi tiếng nhất là ở Hoài Nhơn. Tôi có dịp thử trà và hỏi qua cách chế biến trà cam khổ hóa ra rất đơn giản. Nhưng hương vị trà đúng là rất đặc biệt, sắc đậm hơn trà Bắc, hương thô mộc, vị đậm rồi ngọt dần. Phải chăng “cam-khổ” không chỉ là vị trà mà chính là hương vị của tình người Bình Định?
-
Trà Phú Hội
“Nước Mạch Bà-Trà Phú Hội” là câu thành ngữ của người dân Nhơn Trạch (Đồng Nai) chỉ hai sản vật nức danh nơi đây. So sánh thì hơi khập khiễng nhưng nghe câu ca trên, tôi lại liên tưởng tới Hàng Châu Song Tuyệt: “Suối Hổ Bào- trà Long Tỉnh”.
Dòng nước thiên nhiên Mạch Bà ngày đêm chảy không ngừng tưới tắm cho các đồn điền trà Phú Hội. Các gốc trà ở đây có lịch sử hàng trăm năm, một thời đã bị thất truyền. Phải đến thời gian gần đây, trà Phú Hội mới bắt đầu quay trở lại thị trường. Nhiều vị trà nhân say mê nghiên cứu đã thử pha trà Phú Hội với nước Mạch Bà và khen tấm tắc, nhưng riêng tôi dùng trà Phú Hội ướp hoa cũng thấy khá thú vị!
-
Trà Ô Long
Trà Ô long bắt nguồn từ giống trà hương Phước Kiến (Trung Quốc đại lục), phát triển ở Đài Loan và hiện nay rất phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là ở Lâm Đồng mà nổi danh nhất là Bảo Lộc và Cầu Đất với các giống trà phổ biến là Kim Tuyên, Tứ Quý, Thúy Ngọc ( và 1 số loại nữa như Ô long Trắng, Bát Tiên… nhưng ít phổ biến.)
Khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây rất phù hợp cho cây trà phát triển khiến cho chính những người Đài khi thưởng thức trà Ô long Việt cũng phải say sưa ngây ngất.
Trà Kim Tuyên, Thuý Ngọc có sắc xanh đặc trưng, hương như hoa ngọc lan buổi sớm, vị chát nhẹ nhưng dư âm ngọt thanh như lúa trổ đòng. Nhấp một hơi thấy trong lòng nhẹ bẫng, phơi phới sắc xuân.
Ô long Tứ Quý sắc như nắng mới mùa thu, hương trà thơm như mùi mật ong rừng chàm, vị trà đậm so với các loại Ô long khác, chát nơi đầu lưỡi, hồi lâu ngọt thanh rồi đậm dần tựa đường caramen mới thắng.
3 loại trà Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Tứ Quý mỗi thứ một vẻ đẹp khác nhau nhưng tự chung lại đều là loại trà thượng phẩm trong các loại danh trà.
Xem giá trà ô long tại đây!.
-
Trà Nhất Thiên
Sài Gòn nhớ vị cá tra
Cái xe song mã, chén trà Nhất Thiên.
(Thú ăn chơi- Tản Đà thi sĩ)
Trong nền thơ văn hiện đại Việt Nam, Tản Đà (người của hai thế kỷ) và sau này là Nguyễn Tuân, có thể nói là “ngông” nhất. Nhưng cái ngông nghênh, ngạo đời của người nghệ sĩ bắt nguồn từ tài hoa nghệ thuật, tâm hồn phóng khoáng và tình yêu quê hương đất nước đến tha thiết. Bởi vậy nên khi thi sĩ Tản Đà viết về thú ăn chơi Nam Bắc có nhắc tới “chén trà Nhất Thiên”, tôi cứ băn khoăn mãi. Tìm hiểu thêm mới biết trà Nhất Thiên thực chất là trà Long Tỉnh bán tại tiệm trà Nhất Thiên của người Hoa Chợ Lớn. Long Tỉnh trà là biểu tượng đứng đầu trong thập đại danh trà Trung Quốc và theo chân Hoa kiều di cư tới nước ta. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, cộng đồng người Hoa đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể tách dời của dân tộc Việt Nam. Vì thế, trà Nhất Thiên Long Tỉnh cũng nên được xếp vào danh sách này.
Thông tin thêm:
Hiện nay, ở phía Bắc, bà con nông dân đã nhập giống trà Long Tỉnh về trồng và mang một cái tên mới: trà Thái Nguyên Long Vân. Trà Long Vân là sự hòa quyện của hương vị Việt-Trung, có sắc thanh, hương thơm hoa lan và ngọt bùi như hạt dẻ.
from Dotea http://ift.tt/2nA3ehC
via danh tra dotea
Khi Truyền Thuyết Bí Ẩn Của Trà Shan Tuyết Được Tiết Lộ !”
Dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ và những bí ẩn về chè Tuyết qua 300 – 400 năm?
Những cây trà shan tuyết mọc hoang dã, đã sống hàng 300- 400 trăm năm tuổi trên các đỉnh núi Hoàng Liên Sơn, Tây Côn Lĩnh tại vùng Tây Bắc vẫn là một điều bí ẩn với nhiều người ngay cả giới khoa học.
Cây trà mọc tự nhiên hay ai đã trồng nó rồi… bỏ quên, mặc cho thời gian, năm tháng phủ rêu trắng mốc trên thân cây trà cổ thụ xù xì vài người ôm?
Đem câu hỏi ấy đi tìm lời giải đáp nhưng đa số đều lắc đầu chỉ có một già làng ở bản Giàng B ( Suối Giàng- Yên Bái), lục lại trong tiềm thức và kể lại một câu chuyện đầy kỳ lạ về nguồn gốc của trà tuyết.
Thuở ấy, đã lâu lắm rồi, người Mông vẫn còn cuộc sống du canh du cư, đói nghèo và khổ đau. Trên những cuộc viễn du không ngày mai ấy, nhiều người đã gục xuống và mãi mãi ko thể tiếp tục hành trình gian khổ được.
Người Mông vẫn cứ đi khắp các núi này tới non nọ. Cái đói, cái nghèo, cái chết vẫn cứ đeo đuổi họ.
Một lần nọ, đoàn người di cư tới đỉnh núi nọ, nơi đây phong cảnh trù phú, cây lá tốt tươi, suối chảy róc rách, và tiếng chim hót lảnh lót trong những khóm cây xanh mướt nghe rất vui tai. “Đất lành chim đậu”, đoàn người di cư nghe tiếng chim ngân vang cũng thấy rộn rã trong lòng. Nhưng cơn đói lại ập đến. Những đứa trẻ không chịu được khóc ran. Người mẹ tháo cái gùi, chỉ còn một chút mèn mén dành dụm ít ỏi cho con ăn để xoa dịu cái bao tử đang réo lên từng hồi. Lũ trẻ ăn xong, với bản tính hồn nhiên, nghịch ngợm, chốc lát quên đi cái vất vả, dẫn lũ gia xúc đi uống nước để người lớn bàn chuyện.
Đàn gia súc uống nước xong và ngốn luôn thứ lá cây xanh để ăn. Chúng ăn rất nhiều, phe phẩy cái đuôi thích chí. Vài con non nhảy quẩng lên nom đến là khỏe mạnh. Mấy đứa trẻ thì dùng lá cây làm đàn môi thổi. Không gian thật thanh bình, yên ả.
Tất cả mọi hoạt động đều không qua nổi con mắt tinh tường của trưởng bản. Ông lấy làm lạ vì lũ gia súc ăn lá cây trở nên khỏe phi thường bèn ngắt mấy lá vò nát. Một mùi thơm mát thoang thoảng đưa lên. Người trưởng bản thấy mình khỏe hẳn ra. “ Đúng là lá cây thần kỳ!”
Ông thốt lên và quyết định chọn mảnh đất lành làm nơi định cư cho cả bản. Lá cây kỳ lạ ấy chính là lá chè shan tuyết và nơi đất lành chim đậu là xã Suối Giàng bây giờ.
Có điều, với người Mông, cây chè shan tuyết được dùng như một loại thảo dược. Còn trà shan tuyết trở thành một thượng phẩm như bây giờ thì đó lại là 1 câu chuyện dài khác xin hẹn sau này sẽ kể cho các bạn ở một chương khác.
Tái bút:
Thực ra, sau này có dịp đi và tìm hiểu nhiều nơi, tôi đã có một số thông tin rất hữu ích về nguồn gốc trà tuyết trong đó có một giả thiết khá trùng hợp với câu chuyện trên nhưng cũng rất hợp lý đó là:
- Trà shan tuyết ở một số vùng của Tây Bắc thường mọc hoang trên các dãy núi cao, hùng vĩ như Hoàng Liên Sơn, Tây Côn Lĩnh ở Việt Nam là do loài chim ăn hạt di cư và hoặc dòng chảy của nước từ nơi khác đến. Còn người Mông ở Suối Giàng cũng chỉ mới định cư ở nơi đây chưa lâu vì thế câu chuyện của già làng tôi vừa thuật lại phía trên rất có cơ sở.
Trích: “Ký Sự Suối Giàng”
Ninh Xuân Quỳnh
The post Khi Truyền Thuyết Bí Ẩn Của Trà Shan Tuyết Được Tiết Lộ !” appeared first on Dotea.
from Dotea http://ift.tt/2n3g7Ov
via danh tra dotea
Trà Shan Tuyết Là Gì?
“Chè Suối Giàng nay bốn vụ đều
Mùa xuân lông tuyết búp non thêu
Trông như loáng bạc trên sườn núi
Ngắt lộc, cô Mèo vòng bạc đeo”
Những đỉnh núi cao chót vót chạm trời, những con đường bồng bềnh mây trắng lơ lửng, tiếng khèn man điệu ngân nga gọi bạn và rượu nương thơm nồng nhấm nháp với thịt trâu gác bếp…, tất cả tạo nên một nét đẹp vừa bí ẩn, kỳ lạ, hoang sơ, hùng vĩ lại quyến rũ đến mê người.
Những tháng ngày rong ruổi khám phá Tây Bắc, chúng tôi còn được thưởng thức một loại đặc sản độc đáo và…chỉ có thể thốt lên một chữ “Tuyệt” , đó là trà shan tuyết Suối Giàng.
Trà Shan Tuyết Là Gì?
Trà shan tuyết là đặc sản nổi tiếng của vùng núi cao Tây Bắc Việt Nam. Cái tên shan tuyết ( nghĩa là “ tuyết trên núi”) bắt nguồn từ sắc trắng tinh khôi như tuyết của lớp lông mao dày trên búp non.
Nước ta chỉ mới phát hiện được một số vùng cao tại Yên Bái, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La… và một số mơi khác phân bố rải rác loại trà này. Đây là loại trà mọc hoang, chỉ sống trên núi cao thuộc phạm vi ảnh hưởng của các dãy Hoàng Liên Sơn hay Tây Côn Lĩnh. Cả nước hiện nay chỉ còn khoảng hơn 80 ngàn cây trà. Số lượng trà cổ thụ ngày càng ít đi do già cỗi và sự khai thác quá mức của con người.
Shan tuyết nức danh là cực phẩm trong các dòng trà, không chỉ vì số lượng hiếm mà còn bởi hương vị đặc biệt và hoàn toàn tinh khiết. ( xem thêm phần: “Thưởng trà shan tuyết”).
Hiện nay, nước ta đã tìm cách nhân giống loại trà này từ loại trà shan (Tri777) nhập từ Srilanca ( nguồn gốc từ shan tuyết Việt Nam xuất khẩu sang Srilanca sau đó bị thuần hóa thành) vì loại này cũng có tuyết, tuy nhiên không thể tạo ra được loại trà shan tuyết cổ thụ đúng chất lượng được.
Xem tiếp phần 2: Đầu Xuân Đi Hái Chè Tuyết
Trích: “Ký Sự Suối Giàng”
Ninh Xuân Quỳnh
The post Trà Shan Tuyết Là Gì? appeared first on Dotea.
from Dotea http://ift.tt/2lGK3OP
via danh tra dotea
Trà Nai Vàng – Phóng sự về Trà Nai Vàng
via IFTTT
Trà Nai Vàng – Phóng sự về Trà Nai Vàng
via IFTTT